Về Tác giả

Tôi là Nguyễn Quang Huy, biệt danh Huy Dell. Tôi là 1 Dược sĩ đam mê kinh doanh. Mong muốn của tôi là góp phần giúp xã hội trở nên tốt đẹp hơn bằng những giá trị của mình.

author
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiêm Nghiệm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chiêm Nghiệm. Hiển thị tất cả bài đăng

Hệ phức hợp (Complex Systems)

Leave a Comment

HỆ PHỨC HỢP

Hệ phức hợp là tập hợp các thành phần (agents) tương tác với nhau theo những cách phi tuyến tính, tạo ra các hành vi/thuộc tính mới ở cấp độ toàn thể mà không thể dự đoán (tính trội sinh) một thành phần riêng lẻ.

Ví dụ cơ bản: Một đàn kiến không có "lãnh đạo trung ương" nhưng vẫn tạo ra các hành vi tập thể phức tạp như xây dựng tổ hoặc tìm đường ngắn nhất đến nguồn thức ăn, nhờ tương tác địa phương giữa các cá thể.

4 tính chất cốt lõi của Hệ phức hợp:

1. Tính trội sinh (Emergence):

Hệ thống tạo ra hành vi/thuộc tính mới mà các thành phần riêng lẻ không có (Ví dụ: Sự sống, ý thức).

2. Tương tác phi tuyến tính:

Đầu ra (output) không tỷ lệ thuận với đầu vào (input). Một thay đổi nhỏ có thể gây ra hiệu ứng lớn.

3. Tự tổ chức

Hệ thống có khả năng tự sắp xếp trật tự mà không cần một "nhạc trưởng" hay mệnh lệnh trung tâm.

4. Vòng phản hồi

Hệ thống luôn tự điều chỉnh thông qua:

- Loop tăng cường

- Loop cân bằng

5. Thích nghi và tiến hóa

 Hệ thống không cố định mà liên tục học hỏi và thay đổi cấu trúc để tồn tại với môi trường.

TƯ DUY PHỨC HỢP

Tư duy phức hợp (Complex Thinking) là một bước chuyển hóa quan trọng từ cách nhìn thế giới cơ học, tuyến tính (nguyên nhân A -> kết quả B) sang cách nhìn hệ thống, phi tuyến và đa chiều (theo lý thuyết về Hệ thống phức hợp)

1. Bản chất cốt lõi của Tư duy phức hợp

"Phức hợp" (Complex) bắt nguồn từ chữ Latin complexus, nghĩa là "được dệt lại cùng nhau". Tư duy phức hợp không phải là tư duy về những thứ "rắc rối" (complicated), mà là tư duy về sự liên kết. Khác với tư duy giản lược (chia nhỏ vấn đề để giải quyết), tư duy phức hợp chấp nhận sự tồn tại của những mâu thuẫn, sự không chắc chắn và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các yếu tố.

2. 3 Nguyên tắc nền tảng (Theo Edgar Morin)

Để thực hành tư duy này, bạn cần nắm vững 3 nguyên tắc trụ cột:

- Nguyên tắc Đối thoại (The Dialogic Principle):

Nội dung: Hai yếu tố đối lập nhau nhưng lại không thể tách rời và cùng tồn tại để duy trì hệ thống.

Ví dụ: Trật tự và Hỗn loạn. Một doanh nghiệp cần quy trình (trật tự) để vận hành, nhưng cần sự phá cách (hỗn loạn) để sáng tạo. Hai thứ này phải cùng tồn tại.

- Nguyên tắc Đệ quy tổ chức (The Organizational Recursion Principle):

Nội dung: Nguyên nhân sinh ra kết quả, nhưng kết quả lại quay ngược lại tác động hoặc sinh ra nguyên nhân. Không có điểm bắt đầu hay kết thúc tuyệt đối.

Ví dụ: Xã hội tạo ra con người, nhưng con người cũng tạo ra xã hội.

- Nguyên tắc Toàn ảnh (The Hologrammatic Principle):

Nội dung: Bộ phận nằm trong toàn thể, nhưng toàn thể cũng nằm trong bộ phận.

Ví dụ: Một tế bào chứa toàn bộ mã gen của cơ thể. Tương tự, một nhân viên không chỉ là một bộ phận, họ mang trong mình văn hóa của cả công ty.

3. Các đặc tính quan trọng cần lưu ý

- Tính Đột sinh (Emergence): Tổng thể lớn hơn tổng các bộ phận cộng lại. Khi các thành phần tương tác, chúng tạo ra những tính chất mới mà từng thành phần riêng lẻ không có (ví dụ: Từng tế bào não không có ý thức, nhưng cả bộ não thì có ý thức).

Phi tuyến tính (Non-linearity): Một tác động nhỏ có thể gây ra hậu quả lớn (Hiệu ứng cánh bướm), và ngược lại, nỗ lực lớn chưa chắc tạo ra kết quả lớn nếu không đúng điểm đòn bẩy.

Vòng lặp phản hồi (Feedback Loops):

  • Phản hồi cân bằng (Negative feedback): Giữ hệ thống ổn định (ví dụ: máy điều hòa nhiệt độ).

  • Phản hồi tăng cường (Positive feedback): Thúc đẩy sự thay đổi tăng vọt hoặc sụp đổ nhanh chóng (ví dụ: hiệu ứng lan truyền viral hoặc sự hoảng loạn đám đông).

4. Ứng dụng thực tiễn của Tư duy phức hợp

A. Trong Quản trị Doanh nghiệp & Chiến lược

 - Thay đổi cách hoạch định: Thay vì lập kế hoạch cứng nhắc (A -> B -> C), hãy lập kế hoạch theo kịch bản (Scenario Planning). Chấp nhận rằng môi trường sẽ thay đổi và chiến lược phải là một quá trình "hoa tiêu" liên tục điều chỉnh chứ không phải là một đường thẳng.
- Quản trị nhân sự:
+ Tư duy cũ: Nhân viên là một mắt xích, hỏng thì thay.
+ Tư duy phức hợp: Nhân viên là một thực thể phức tạp (có cảm xúc, gia đình, nỗi sợ). Hiệu suất của họ phụ thuộc vào mối quan hệ của họ với đồng nghiệp và văn hóa công ty. Thay vì chỉ dùng KPI (kiểm soát), hãy dùng văn hóa và mục tiêu chung (định hướng) để tạo ra "tính đột sinh" (sự gắn kết và sáng tạo tập thể).
+ Xử lý khủng hoảng: Khi doanh số giảm, đừng chỉ nhìn vào Sale (tư duy giản lược). Hãy nhìn cả hệ thống: Marketing, Sản phẩm, Dịch vụ khách hàng, Đối thủ, Tâm lý thị trường.

B. Trong Giải quyết vấn đề (Problem Solving)

  • Đối mặt với "Wicked Problems" (Vấn đề hóc búa): Với những vấn đề không có lời giải đúng/sai rõ ràng (như đói nghèo, biến đổi khí hậu, hay văn hóa doanh nghiệp độc hại), tư duy phức hợp khuyên bạn không nên tìm cách "sửa chữa" (fix) ngay lập tức, mà hãy can thiệp (intervene) vào các mối liên hệ để thay đổi hành vi của hệ thống dần dần.

  • Tìm điểm đòn bẩy (Leverage Points): Thay vì tốn sức đẩy cả tảng đá, hãy tìm điểm tựa. Một thay đổi nhỏ trong tư duy người lãnh đạo hoặc luồng thông tin có thể thay đổi cả hệ thống lớn.

C. Trong Giáo dục & Phát triển bản thân

  • Học tập đa ngành: Kiến thức không cô lập. Kinh tế liên quan đến Tâm lý, Tâm lý liên quan đến Sinh học. Tư duy phức hợp khuyến khích việc kết nối các điểm kiến thức rời rạc để tạo ra sự hiểu biết sâu sắc (Deep understanding).

  • Quản lý bản thân: Nhìn nhận sức khỏe, sự nghiệp, và hạnh phúc là một hệ thống liên thông. Bạn không thể hy sinh sức khỏe để lấy sự nghiệp mà mong đợi hạnh phúc bền vững, vì hệ thống cơ thể sẽ phản hồi (bệnh tật) và làm sập đổ sự nghiệp.

Read More

Vô thường

Leave a Comment

 Hôm nay, mới ngủ dậy lướt cầm điện thoại thì nhận ngay tin 1 người nổi tiếng trong giới doanh nhân mất do đột quỵ. Mấy hôm trước cũng vừa nghe tin một người anh quen xa xa mất do đột quỵ sau khi tập thể dục. Dù địa vị, tài sản, mối quan hệ của họ tuy khác nhau, nhưng cũng đều chung một kết cục: cái chết.

Mình có học Phật rồi nên cũng hiểu cuộc đời này là vô thường, nghĩa là không có gì cố định, mọi sự việc, hiện tượng đều sẽ biến đổi. Nên gặp những chuyện thế này cũng không đến nỗi phải sốc, chỉ đơn giản là hơi bất ngờ vì những sự vô thường đó đến hơi đột xuất. 

Cảm xúc đầu tiên là nỗi sợ của bản thân đến sự vô thường. Rồi mình, người thân, bạn bè mình cũng sẽ già đi, hoặc cái chết sẽ đến bất cứ lúc nào. Cảm xúc chung của chúng ta là trở nên yêu thương bản thân, yêu thương người thân, bạn bè mình hơn. Vậy thì phải tôn trọng từng phút giây của bản thân, của cha mẹ, vợ con, người thân, bạn bè khác của mình trên thế giới này. 

Điều thứ 2 nghĩ đến là sức khỏe của mình. Sau covid, có cảm giác rằng những cái chết đột ngột dễ đến với con người hơn, ko rõ là do vaccine hay do virus ảnh hưởng. Nhưng dù sao thì vẫn phải cẩn trọng hơn cho sức khỏe bản thân. Ví dụ như anh T đột quỵ có tin là anh vừa nhồi máu cơ tim, phải can thiếp. Đại khái có thể do mỡ máu cao. Đợt gần đây mình khám bị mỡ máu nhẹ, chỉ số tiểu đường, gout cũng cao hơn trung bình chút xíu. Vậy là mình phải dậy duy trì việc chạy bộ ngay lập tức. Trộm vía, càng chạy ra mồ hôi nhiều, mình thấy người thanh thoát hơn. Mấy ngày đầu chạy 5km hơi oải, nhưng sau cũng thấy dễ dàng cực kỳ...

Tóm lại, cần yêu thương bản thân hơn, bằng cách rèn giũa sức khỏe thể chất và tinh thần, để ít nhất là sống lâu hơn, mạnh mẽ hơn trong mọi sự vụ. Trân quý người xung quanh nhiều hơn và phải phấn đấu nhiều hơn để đem lại hạnh phúc cho mọi người. Còn làm như thế nào thì dần dần sẽ nghĩ ra. 


Read More

Tóm tắt sách: Muốn Nên Người - Phạm Cao Tùng

Leave a Comment

    Quyển sách này mình biết từ khá lâu rồi, cũng ko nhớ rõ lắm cơ duyên gì mà mình biết đến nó nhưng mình thấy rõ rằng một quyển sách viết từ những thập niên đầu tiên của thế kỷ 20 cách đây gần 100 năm vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến bây giờ thì thật là đáng quý.

   Nhân tiện ngày hôm nay rảnh, và muốn làm tươi mới động lực cho chặng đường sắp tới nên mình đọc lại. Và giờ thì viết lại một số tóm tắt và suy nghĩ của mình khi đọc xong.


  Đầu tiên, tác giả nói rõ rằng thành công của mỗi người trong xã hội này là trở "nên người". Mục tiêu của giáo dục là nghệ thuật giúp người ta nên người. Nên người có nghĩa là đạt được toàn diện về trí tuệ, thể chất, chí khí, tinh thần và xã hội. Không ai tự dưng nên người cả, tất cả đều do tự phấn đấu, giáo dục mà ra.

Để nên người thì phải có Luật cố gắng, tất cả mọi thứ đều chỉ đạt được khi có sự cố gắng. 

Chí khí (ý chí) là yếu tố quyết định đến sự thành công của mỗi người. Chỉ có người có chí khí mới dũng cảm vượt qua mọi giao lao thử thách, phải hành động thì mới kỳ vọng có thành công. Không quan trọng bạn là ai, xuất phát từ đâu, miễn là lúc nào bạn cũng có ý chí thì ắt sẽ thành công. Tác giả có đưa ra lời khuyên về việc luyện chí. Luyện chí bằng cách tạo những thói quen tốt, bắt đầu từ việc chinh phục những mục tiêu nhỏ và tiến lên dần đều. 

Lập sức khỏe: Mọi thứ bắt đầu từ việc có sức khỏe. Phải có sức khỏe tốt về cả thể chất và tinh thần thì mới làm được những việc lớn lao khác được.

Lập vốn: Tức là chọn 1 cái nghề. Không cần nghĩ gì xa xôi, có 1 cái nghề để có tiền nuôi bản thân, gia đình đã. Tác giả đề cập đề từ Chuyên nghiệp. Nghĩa là khi chọn một nghề phù hợp với mình thì phải đào sâu tìm hiểu nghề đó để mình thật chuyên, phải trở thành người giỏi nhất trong nghề thì mới có cơ may tồn tại trong xã hội đầy cạnh tranh được.

Lập trí: Bên cạnh từ "chuyên nghiệp" thì tác giả nói đến từ "phổ thông". Mỗi người cũng cần trang bị cho mình những kiến thức phổ thông (hiểu rộng) để ứng dụng trong xã hội.

Tác giả có chia sẻ về sự tự học. Tự học là điều kiện tiên quyết vì chỉ nó tự học mới giúp tiếp thu và tiến bộ nhanh. Tự học gồm Đọc sách, Nghe người khác chia sẻ, Quan sát sự vận hành (nhìn) và Suy ngẫm (đào sâu vấn đề). Đọc sách 5 phút nhưng suy ngẫm 1 tiếng. Thà hiểu sâu 1 cuốn sách kỹ càng còn hơn đọc nhiều sách mà ko đọng lại gì. 

Lập đức: Sống có đạo đức, tuân thủ theo pháp luật

Lập gia đình: Chăm lo toàn vẹn cho gia đình.

Lập thân: Phần cuối cùng này mình khá ấn tượng. Mục đích sống của con người là tiến hóa. Xã hội cả triệu năm của con người thực chất không nằm ngoài 2 từ "tiến hóa". Một cách đơn giản là mình hôm nay phải hơn mình của ngày hôm qua, ngày mai phải tốt hơn hôm nay. Nếu không thì sống trên cuộc đời này cũng không có ý nghĩa gì. Đi theo mục đích sống là tiến hóa, thì mỗi người cũng cần có 1 mục đích sống, mỗi người sẽ có 1 cái đích khác nhau (điểm đến). Cần phải chọn cho mình 1 mục đích rõ ràng, phù hợp và cố gắng để đạt nó.

Sống đắc lực: Trong mọi hoàn cảnh, một cách sống để thành công là sống đắc lực.Tức là cách sống sao cho mình sinh lợi nhiều mà tiêu hao ít trong mọi lĩnh vực. Anh làm nghề Y thì ngoài công việc được giao của mình, anh dành thời gian tìm hiểu chuyên sâu để phát triển hơn trong lĩnh vực của mình (chuyên nghiệp) và mở rộng tri thức bản thân ở lĩnh vực khác (phổ thôn), có thời cơ nào đó, anh sẽ có thể tìm được những cơ hội mới mà mình chưa nghĩ đến, đó là sống đắc lực.

---------

Về cơ bản, quyển sách đem lại cho mình 1 số keyword quan trọng để mình suy ngẫm thêm:

- Nên người: Toàn vẹn về Thể chất, tri thức, đạo đức, chí khí, tinh thần, xã hội.

- Giáo dục là nghệ thuật giúp một người trở nên "nên người"

- Luật Cố gắng

- Chí khí luôn là yếu tố quan trọng nhất

- Chuyên nghiệp và Phổ thông

- Tự học: Đọc sách, Nghe, Nhìn, Nghĩ

- Tiến hóa - Mục đích sống

- Sống đắc lực





Read More

Tìm hiểu về Nho giáo (Khổng giáo)

Leave a Comment

NHO GIÁO


- Khái niệm.


- Nguồn gốc của Nho giáo.


- Tôn chỉ của Nho giáo.


- Học thuyết của Nho giáo:


+ Hạ học.


+ Thượng học.


- Triết lý của Nho giáo:


          + Nhân Sinh quan.


          + Vũ Trụ quan.


- Kinh điển.


- Tiểu sử của Đức Khổng Tử.


- Các Chi phái.


- Sự Giáo dục.


- Nho giáo VN qua các triều đại.


- Phần kết.


  


1. Khái niệm


NHO: theo Hán tự, do chữ Nhân và chữ Nhu ghép lại. Nhân là người, Nhu là cần dùng.


Nho là hạng người luôn luôn được cần dùng đến để giúp ích cho nhân quần xã hội biết cách ăn ở sao cho hợp với lòng người và lẽ Trời. Chữ Nhu còn có nghĩa là chờ đợi, tức là người trí thức chờ đợi người ta cần dùng gọi đến thì đem tài sức ra giúp đời.


Như vậy, Nho là những hạng người học thông đạo lý của Thánh Hiền, biết được lẽ Trời Đất và Người, để hướng dẫn người phải ăn ở và cư xử thế nào cho hợp với Đạo Trời, hợp với lòng người. Sách Pháp Ngôn có câu: “Thông Thiên định Địa viết Nho”. Nghĩa là: Người biết rõ cả Thiên văn, Địa lý, thì mới gọi là Nho. Phàm những người Nho học thì chuyên về mặt áp dụng thực tế, chớ không chú trọng nhiều về mặt lý tưởng. Bởi vậy, từ xưa đến nay, họ là những người sẵn sàng nhập thế cuộc, gánh vác việc đời, làm ích nước lợi dân, khác hẳn với những tu sĩ Phật giáo hay Lão giáo, chỉ biết xuất thế, lo tu độc thiện kỳ thân.


GIÁO: Dạy, tôn giáo, một mối đạo.


NHO GIÁO là một tôn giáo hay một học thuyết có hệ thống và có phương pháp, dạy về Nhân đạo, tức là dạy về đạo làm một con người trong gia đình và trong xã hội. Hệ thống của Nho giáo thì theo chủ nghĩa: “Thiên Địa Vạn vật đồng nhất thể”, nghĩa là: Trời Đất và muôn vật đều đồng một thể với nhau. Phương pháp của Nho giáo là phương pháp chứng luận, lấy Thiên lý lưu hành làm căn bản. Như vậy, học thuyết của Nho giáo có 3 điều cốt yếu :


- Về Tín ngưỡng: Luôn luôn tin rằng Thiên Nhân tương dữ, nghĩa là: Trời và Người tương quan với nhau.


- Về Thực hành: Lấy sự thực nghiệm chứng minh làm trọng.


- Về Trí thức: Lấy trực giác làm cái khiếu để soi rọi tìm hiểu sự vật.


Nếu ai đã hiểu tường tận tôn chỉ của Nho giáo thì đều công nhận Nho giáo là một tôn giáo rất cao minh của nhân loại, đã phát huy ra từ xưa tới nay. Tuy rằng người ta đem ra thi hành không được hoàn toàn, và có nhiều người hiểu lầm, song ai đã tâm đắc cái tinh thần ấy thì cũng đạt được một nhân cách quí trọng đặc biệt.


2. Nguồn gốc của Nho giáo


Nho giáo bắt nguồn từ thời thái cổ ở nước Tàu. Thuở đó, vua Phục Hy, là một Thánh Vương đắc đạo, trông thấy được các hiện tượng trong cõi Hư linh. Ngài nhìn thấy Long Mã có bức đồ trên lưng gồm những chấm đen trắng, nổi lên giữa sông Hoàng Hà, mà biết được lẽ Âm Dương, chế ra Tiên Thiên Bát Quái, cắt nghĩa sự biến hóa của Trời Đất để làm nguyên tắc dạy người. Những vạch đơn giản của Bát Quái ấy được xem là đầu mối của văn tự về sau này.


Vua Phục Hy lại còn dạy dân nuôi súc vật để sai khiến, làm lưới để đánh cá, nuôi tằm lấy tơ làm quần áo, chế đàn cầm đàn sắt, dạy dân lễ nghĩa, phép cưới vợ gả chồng (dùng một đôi da thú làm lễ, vì ở thời kỳ ngư lạp, da thú là quí), từ đó mới có danh từ gia tộc. Sau, đến đời vua Hoàng Đế (Hiên Viên Huỳnh Đế), mới chế ra áo mão, và sai Ông Thương Hiệt chế ra chữ viết.


Đó là khởi thủy của Nho giáo, thành hình do thực tế kết hợp với huyền lý của Trời Đất. Nho giáo lấy đạo Trời làm khuôn mẫu, dạy người thuận theo lẽ Trời, còn nghịch với Trời thì phải chết. Nho giáo đã giúp nước Tàu thời Thượng cổ được hòa bình, dân chúng trên thuận dưới hòa, tạo ra một nền luân lý có căn bản vững chắc. Tiếp theo đến đời nhà Châu, vua Văn Vương và con của Ngài là Châu Công Đán, tiếp tục khuếch trương Nho giáo, diễn giải Kinh Dịch do Phục Hy truyền lại, hệ thống hóa lễ nghi và sự tế tự.


Vào cuối thời nhà Châu, đời vua Linh Vương, năm 551 trước Tây lịch, có Đức Khổng Tử ra đời. Đức Khổng Tử chỉnh đốn và san định kinh sách, phục hưng Nho giáo, tạo thành một giáo thuyết có hệ thống chặt chẽ, xứng đáng đứng ngang hàng với Lão giáo và Phật giáo. Đức Khổng Tử được xem là Giáo Chủ Nho giáo.


Đạo Nho, kể từ khi Đức Khổng Tử phục hưng, nối tiếp về sau được các vị Thánh nhân như Tử Tư, Mạnh Tử, phát huy đến độ rực rỡ, rồi sau đó dần dần suy tàn theo thời gian, vì không có bậc tài giỏi nối tiếp xiển dương, cuối cùng trở thành một môn học từ chương dành cho sĩ tử leo lên đường hoạn lộ. Cái tinh túy của Nho giáo đã bị vùi lấp và Nho giáo được sử dụng một cách lệch lạc theo ý riêng của kẻ phàm trần.




3. Tôn chỉ của Nho giáo


Tôn chỉ của Nho giáo gồm:


- Thiên Địa Vạn vật đồng nhất thể.


- Trung Dung.


3.1. Thiên Địa Vạn vật đồng nhất thể


Theo quan niệm của Nho giáo thì Con người sinh ra đã bẩm thụ cái Lý và cái Khí của Trời Đất, tức là cùng với Trời Đất có thể tương liên tương cảm và tương ứng nhau được. Sự tương cảm ấy lúc nào cũng có, nhưng khi ta để cho lòng tư dục dấy lên mạnh mẽ, chỉ biết tính toán để làm lợi riêng cho mình thì cái tinh thần bị rối loạn đi, cái trực giác trở nên ám muội, nên cái cảm ứng ta không biết được.


Nhưng nếu ta biết đè nén lòng tư dục, giữ cho lúc nào cũng có thái độ điều hòa, thì trực giác trở nên mẫn huệ, biết được các điều sâu xa bí ẩn, tức là tương cảm được với Trời. Trời sinh ra con người và vạn vật, nên Trời có gì thì con người có nấy, nên gọi Trời là Đại Thiên Địa, và con người là Tiểu Thiên Địa. Trời và người đồng thể nên tương liên tương cảm với nhau là điều dĩ nhiên.


3.2. Trung Dung


Trung là không lệch về phía nào, Dung là không thay đổi. Trung là đường chính trong thiên hạ, Dung là nhất định trong thiên hạ. Vậy, Trung Dung là không lệch về phía nào, luôn luôn giữ thái độ dung hòa, không thái quá, cũng không bật cập, trong quan hệ đối với người hay xử lý các việc.


Vũ trụ và vạn vật luôn luôn biến hóa theo lẽ điều hòa và tương đối, lưu hành mãi mãi không lúc nào ngừng nghỉ. Thiên đạo đã không cố định thì việc đời có gì là cố định? Vậy ta cứ tùy thời mà hành động, miễn sao giữ được sự điều hòa và trung chính. Làm việc gì cũng phải lấy Trung Dung làm căn bản, tức là không thái quá, cũng không bất cập, luôn luôn thích hợp với Đạo Trung hòa của Trời Đất.


Đức Khổng Tử đem cái tôn chỉ ấy lập thành một Nhân sinh triết học, tức là một nền luân lý rất hòa nhã, êm ái, làm cho người ta sống thư thái vui vẻ, không buồn bã lo sợ. Những điều: Hiếu, Nghĩa, Trung, Tín, cũng đều do đó mà ra cả.


4. Học thuyết của Nho giáo


Học thuyết của Nho giáo tóm gọn trong 3 điều sau đây:


- Sự biến hóa của vũ trụ quan hệ đến vận mạng của nhân loại.


- Luân thường đạo lý trong đời sống xã hội.


- Lễ Nhạc trong việc tế Trời Đất, Quỉ Thần và Tổ Tiên.


Đó là những điều căn bản xác định Nhân sinh quan và Vũ trụ quan của một nền tôn giáo. Do đó, ta có thể nói rằng, trước thời Đức Khổng Tử, chỉ là Nho học, nhưng sau thời Đức Khổng Tử, Nho học được Ngài hoàn chỉnh, trở thành một tôn giáo hẳn hoi, gọi là Nho giáo, giống như Phật giáo, Lão giáo, hay Thiên Chúa Giáo.


Đứng về phương diện tôn giáo, học thuyết của Nho giáo được chia làm 2 phần rõ rệt:


- Hạ học.


- Thượng học.


4.1. Hạ học


Hạ học là cái học thuộc về Hạ thừa, làm căn bản cho Thượng thừa, là cái học cụ thể về những điều quan hệ đến cuộc sống của con người một cách thiết thực. Chủ yếu Hạ học là dạy về Nhân đạo. Không có một nền tôn giáo nào dạy về Nhân đạo một cách kỹ lưỡng và sâu sắc bằng Nho giáo. Sau đây là một số điểm chính:


- Quân tử, Tiểu nhân.


- Tu thân.


- Công bình, Bác ái.


- Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức.


- Lễ Nhạc.


- Chính danh định phận.


4.1.1. Quân tử - Tiểu nhân


Nho giáo chia những người trong xã hội làm 2 hạng: Quân tử và Tiểu nhân.


- Quân tử là người có đức hạnh hoàn toàn, nhân phẩm cao quí, chăm lo Đạo Thánh Hiền để sửa mình, dẫu nghèo khó cũng không làm điều trái đạo.                                             


- Tiểu nhân thì hoàn toàn trái ngược, kẻ tiểu nhân có chí khí hèn hạ, tham danh cầu lợi, miệng nói nhân nghĩa mà trong lòng tính chuyện bất nhân, dù giàu có nhưng tinh thần vẫn đê tiện.


Người Quân tử bao giờ cũng tòng Thiên lý, cho nên tâm tính quang minh, thích làm việc nghĩa, càng ngày càng cao thượng; kẻ Tiểu nhân bao giờ cũng theo nhân dục, chí khí thấp thỏi, nên luôn luôn bị vật dục khiến sai, chỉ biết cái lợi riêng cho mình, càng ngày càng thêm hèn hạ.


Quân tử thì trung dung vì hiểu được cái thấp cái cao, Tiểu nhân thì phản trung dung vì chỉ biết tư lợi. Quân tử chỉ cầu ở mình, nên cái đức càng ngày càng sáng thêm; Tiểu nhân thì mong cầu ở người, nên cái lòng dục càng lúc càng buông xổng thêm ra. Học làm Quân tử thì phải thành thật, không bao giờ tự dối mình mà làm hại cái biết của mình.


Muốn học cho đạt cái đạo của người Quân tử thì phải theo đúng như lời Đức Khổng Tử dạy: “Dốc lòng tin, ham sự học, giữ cho vững, dẫu chết cũng không thay đổi, làm cho cái Đạo hay hơn lên. Không vào nước đã nguy, không ở nước có loạn. Đời có Đạo thì ra làm mọi việc, đời không Đạo thì ẩn mà sửa mình. Nước có Đạo mà mình nghèo và hèn là xấu hổ; nước không Đạo mà mình giàu và sang là xấu hổ.”


4.1.2. Tu thân


Người Quân tử cần phải học hỏi luôn luôn để biết mà sửa mình. Muốn sửa mình (Tu thân), trước hết phải giữ cái Tâm cho chính, cái Ý cho thành, rồi mới Cách Vật, Trí Tri được. Do đó, Nho giáo đưa ra Bát Điều Mục, tức là 8 bước thực hành theo thứ tự sau đây:


- Cách vật: Cách ly sự vật để quan sát cho rõ ràng.


- Trí tri: Nghiên cứu để biết tận gốc rễ của sự vật.


- Thành ý: Rèn luyện ý chí thành thật dũng mãnh.


- Chính tâm: Thanh lọc tâm hồn thoát khỏi sự ô nhiễm của vật dục.


- Tu thân: Sửa đổi những điều sai lầm của mình.


- Tề gia: Sắp đặt các việc gia đình cho đúng phép.


- Trị quốc: Cai trị dân theo đường lối chân chính.


- Bình Thiên hạ: Đem lại thanh bình và hạnh phúc cho toàn dân.


4.1.3. Tam Cương - Ngũ Thường - Tam Tòng - Tứ Đức


Đức Khổng Tử dạy về Nhân đạo :


+ Nam thì giữ Tam Cương và Ngũ Thường.


+ Nữ thì giữ Tam Tòng và Tứ Đức.


- Tam Cương: Ba Giềng mối gồm: Quân thần cương, Phụ tử cương, Phu thê cương.


+ Quân thần cương: Quan hệ vua tôi, tức là Trung: Trung với nước, trung với dân. Không nên quan niệm hẹp hòi là trung với một cá nhân ông vua hay một dòng họ vua, vì đó là ngu trung. Chỉ trung với vua khi nào gặp được vị vua sáng suốt (Quân minh thần trung), chúa Thánh tôi hiền.


+ Phụ tử cương: Quan hệ cha con, cha mẹ phải hiền, hết dạ thương con và con phải hiếu thảo với cha mẹ.


+ Phu thê cương: Quan hệ vợ chồng. Nghĩa là: xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Người phụ nữ khi đi lấy chồng thì phụng sự chồng, khi chồng chết thì ở vậy nuôi con mới là người tiết hạnh.


- Ngũ Thường: Năm điều thường có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.


+ Nhân: Lòng thương người mến vật.


+ Nghĩa: Việc đối xử theo lẽ phải, biết đền ơn đáp nghĩa đối với người và vật.


+ Lễ: Thể hiện sự tôn kính và trật tự trong ý nghĩ, lời nói và việc làm.


+ Trí: Sự hiểu biết sáng suốt, phân biệt phải quấy.


+ Tín: Không gian dối, gạt gẫm.


- Tam Tòng: Ba điều phải theo của người phụ nữ: Tại gia tòng phụ, Xuất giá tòng phu, Phu tử tòng tử.


+ Tại gia tòng phụ: Ở nhà thì nghe theo lời của cha mẹ.


+ Xuất giá tòng phu: Có chồng thì phải tòng theo chồng.


+ Phu tử tòng tử: Chồng chết thì ở vậy nuôi con cho nên người, không nên tái giá.


- Tứ Đức: Bốn Đức của người phụ nữ: Công, Dung, Ngôn, Hạnh.


+ Công: Chăm lo làm công việc gia đình.


+ Dung: Chăm sóc thân thể cho tốt đẹp, sạch sẽ.


+ Ngôn: Lời nói dịu dàng, đoan chính.


+ Hạnh: Ngay thẳng, nhân ái trong mọi việc.


4.1.4. Công bằng - Bác ái


Người ta sinh ra ở đời, ai cũng bẩm thụ cái Lý và Khí của Trời Đất như nhau, nên đều chịu mệnh Trời như nhau. Như vậy, mọi người đều bình đẳng và là anh em với nhau. Một hôm, Tử Cống hỏi Đức Khổng Tử: Có lời nào khả dĩ thi hành được chung thân không? Đức Khổng Tử đáp: Kỳ thứ hồ! Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân. (Chữ Thứ chăng! Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người.) Đó là Công bình và Bác ái. Nó nằm trong cái Đạo Nhất Quán của Đức Khổng Tử: Đạo Nhân.


4.1.5. Lễ Nhạc


- Lễ


Nho giáo dùng Lễ cốt để tạo thành một tập quán Lễ Nghĩa, khiến cho người ta làm điều lành điều phải một cách tự nhiên, không cần suy nghĩ. Dùng Lễ có cái hay là ngăn cản những việc xấu không cho xảy ra, còn dùng pháp luật là để trị những cái xấu đã xảy ra. Do đó, Thánh nhân trọng Lễ chớ không trọng Hình phạt.


Chữ Lễ, trước tiên dùng với ý nghĩa là các hình thức cúng tế cầu Thần linh ban phước và cúng tế Tổ tiên. Sau đó, chữ Lễ được dùng rộng ra bao gồm những phép tắc phù hợp với phong tục và tập quán của dân chúng trong việc Quan, Hôn, Tang, Tế. Sau nữa, chữ Lễ còn có nghĩa thật rộng, gồm cả cái quyền bính của vua và cách tiết chế các hành vi của dân chúng cho thích hợp với cái lẽ tự nhiên của Trời Đất. Cho nên Kinh Lễ của Nho giáo nói rằng: “Lễ giả, Thiên chi tự.” Nghĩa là: Lễ là cái trật tự của Trời. Do đó, Nho giáo rất chú trọng về Lễ, và dùng Lễ vào 4 mục đích :


+ Dùng Lễ để hàm dưỡng tính tình của con người


Dùng Lễ để tạo thành một không khí đạo đức trang nghiêm, dần dần biến thành một tập quán tốt, khiến người ta làm điều phải điều lành một cách tự nhiên mà không biết. Vậy nhờ Lễ mà con người được khơi dậy những tình cảm tốt đẹp cao thượng.


+ Dùng Lễ để giữ thích hợp với đạo Trung Dung


Không cho thái quá, mà cũng không cho bất cập. Nhờ vậy, thể xác và tinh thần của con người được quân bình, hành động lúc nào cũng được sáng suốt và chừng mực. Đức Khổng Tử bảo thầy Nhan Uyên (Nhan Hồi) là người đã hiểu rõ đạo Nhân hơn người là vì do Lễ. “Phi Lễ vật thị, phi Lễ vật thính, phi Lễ vật ngôn, phi Lễ vật động.” Nghĩa là : Không phải Lễ thì chớ nhìn, không phải Lễ thì chớ nghe, không phải Lễ thì đừng nói, không phải Lễ thì chớ làm.


+ Dùng Lễ để định lẽ phải trái, tình thân sơ, và trật tự trên dưới phân minh                                                     


Nhờ Lễ mà phân biệt được kẻ thân người sơ, kẻ nhỏ người lớn, vì Lễ qui định sự đối xử khác nhau một cách rõ rệt. Do đó không còn chỗ hiềm nghi, định rõ lẽ phải trái. Nhờ Lễ mà định được cái Chính danh. Có Chính danh mới định cái phận cho thích hợp. Do đó mà có tôn ti trật tự, phép tắc luân lý, từ gia đình đến xã hội, tạo nên một xã hội trật tự thái bình.


+ Dùng Lễ để tiết chế lòng dục                             


Dục vọng của con người thì không cùng và lúc nào cũng đòi hỏi để được thỏa mãn. Nếu không dùng Lễ để chế giảm, tất dục vọng sẽ làm con người hư hỏng. Dùng Lễ để chế giảm mà còn hướng dẫn dục vọng vào con đường cao thượng nữa. Lễ và Pháp luật đều có mục đích ngăn chặn sự hư hỏng và tội lỗi của con người. Nhưng Lễ có ưu điểm là nó có thể ngăn cản được những việc chưa xảy ra; còn dùng pháp luật là để trừng trị những việc tội lỗi đã xảy ra rồi. Pháp luật, tuy phải đặt ra, nhưng dùng sự giáo hóa về lễ mà ngăn ngừa sự phạm tội thì mới ưu việt.


Tóm lại, chữ Lễ trong nghĩa rộng có bao hàm tính chất pháp luật. Nhưng Lễ chú trọng về mặt giáo hóa và ngăn ngừa sự hư hỏng; còn luật pháp thì chú trọng sự trừng phạt những điều hư hỏng và phạm tội. Lễ thì dạy người ta nên làm điều gì, không nên làm điều gì, và tại sao như thế. Còn pháp luật thì cấm không cho làm việc này việc nọ, mà hễ vi phạm thì bị trừng phạt. Người làm trái Lễ thì bị chê cười, có tính cách trừng phạt về phương diện tinh thần; người làm trái pháp luật thì bị trừng phạt về thể xác.


- Nhạc


Nhạc là sự hòa hợp các thứ âm thanh mà tạo thành, thể hiện sự rung cảm của lòng người đứng trước ngoại vật. Hay nói khác đi, chính sự rung động trong lòng người mới tạo thành tiếng nhạc. Nhạc có thế lực quan trọng nên bậc Đế vương thời xưa như vua Thuấn dùng Nhạc để cảm hóa dân chúng, khiến dân trở nên lương thiện. Sách Nhạc có viết rằng: “Nhạc là cái vui của Thánh nhân, mà có thể khiến cho lòng dân trở nên tốt lành, có thể cảm lòng người rất sâu và làm phong tục dời đổi được. Cho nên Tiên vương mới đặt ra việc dạy Nhạc.”


Nhạc cũng phải giữ cái đạo Trung Dung, dẫu vui cách mấy cũng không làm mất cái chính, mà buồn cách mấy cũng không làm mất cái hòa. Như thế, Nhạc mới có thể điều hòa được cái tính tình của con người.


4.3.3. Sự phối hợp của NHẠC và LỄ                            


Nhạc và Lễ đều có cái chủ đích chung là sửa đổi tâm tính con người cho ngay chính, bồi dưỡng tình cảm cho thuần hậu, nhưng mỗi bên có cách thức riêng biệt. Lễ cốt ở sự cung kính để giữ cho trật tự phân minh, Nhạc cốt ở sự điều hòa khiến cho tâm tính được tao nhã. Vậy nên có Lễ phải có Nhạc, có Nhạc phải có Lễ, để cho cái này bổ khuyết cho cái kia thì mới tạo được sự điều hòa tốt đẹp và một trật tự ổn định trong xã hội. Nhưng Đức Khổng Tử lại nói: “Nhân nhi bất nhân như Lễ hà? Nhân nhi bất nhân như Nhạc hà? “Nghĩa là: Người mà không nhân đức thì làm sao dùng Lễ được? Người mà không nhân đức thì làm sao dùng Nhạc được?


Đức Khổng Tử còn chủ trương không nghiêng về bên Lễ, cũng không nghiêng về bên Nhạc: “Nhạc thắng hóa bừa bãi, Lễ thắng hóa chia lìa. Khiến thích hợp tính tình, phục sức và dung mạo là công việc của Lễ Nhạc”. Lễ Nhạc có địa vị rất trọng yếu trong đạo trị nước và đặt ngang hàng với Hành chính và Hình pháp. “ Lễ để chỉ đạo ý chí, Nhạc để điều hòa thanh âm, Hành chính để thống nhất hành động, Hình pháp để ngăn ngừa tội ác. Lễ, Nhạc, Hành chính, Hình pháp, có mục đích cuối cùng là một, tức là thống nhất lòng dân để thực hiện một nền thạnh trị.”


Ý của Đức Khổng Tử và các bậc Thánh xưa dùng Lễ Nhạc cao siêu như thế, nhưng lần lần, từ đời nọ truyền qua đời kia, Nhạc và Lễ biến đổi theo tình đời và trở nên sai hết. Lễ thì biến ra thêm phiền toái mà không giữ được sự Kính làm gốc, Nhạc thì biến ra đủ thứ đủ loại mà không giữ được sự Hòa làm gốc. Con người không được Nhạc và Lễ hướng dẫn và kềm chế nên đã bị dục vọng vật chất lôi cuốn đến chỗ thấp hèn, đang tiến vào hố sâu vực thẳm.


4.1.6. Chính danh Định phận


“Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành.” Nghĩa là: Danh không chính đáng thì lời nói không xuôi, lời nói không xuôi thì việc không thành. Danh đã chính thì việc gì cũng có nghĩa lý rõ ràng của việc ấy, những điều tà thuyết không che khuất được chân lý. Danh và Phận đã được định rõ thì mỗi người đều có địa vị và bổn phận chính đáng của mình, trật tự phân minh.


 4.2. Thượng học


Thượng học thuộc về Đại thừa hay Thượng thừa, Là quan niệm về thế giới quan của Nho giáo, rất uyên áo cao viễn mà Đức Khổng Tử có nhiều điều nói rõ trong Kinh Dịch (sách căn bản về triết Lý của Nho giáo) và trong sách Trung Dung (sách Triết học bàn về Thiên đạo và Nhân đạo rất sâu xa).


Sau đây là một số điểm tiêu biểu:


- Thái cực và sự biến hóa của Thiên lý.


- Thiên mệnh.


- Quỉ Thần.


- Hồn phách.


- Đạo của Đức Khổng Tử.


4.2.1. Thái cực và sự biến hóa của Thiên lý


Quan điểm của Nho giáo về thế giới quan (sự hình thành vũ trụ và vạn vật) được diễn tả như sau: Khởi đầu của Vũ trụ là một khối mờ mịt hỗn độn. Trong cái Hỗn độn ấy có một cái Lý rất linh diệu cương kiện gọi là Thái Cực. Song Thái Cực huyền bí vô cùng, ta không thể biết rõ được, nhưng khi xem xét sự biến hóa của vạn vật thì ta có thể đoán biết được cái động và tịnh của Thái Cực. Động là Dương, tịnh là Âm. Dương lên đến cực độ lại biến ra Âm; Âm lên đến cực độ lại biến ra Dương. Hai cái Âm Dương ấy cứ xoay chuyển tương đối, điều hòa nhau mà biến hóa sinh ra Trời Đất và vạn vật.


Đó là điểm cốt yếu của Kinh Dịch, bởi vì Dịch là biến đổi. Trong Trời Đất, không có cái gì là không biến đổi, không có cái gì là nhất định. Tất cả đều biến đổi, xoay chuyển, lưu hành khắp nơi, nhưng đều phát sinh từ một Lý duy nhất là Thái Cực. Chỉ có Thái Cực là tuyệt đối, còn tất cả đều là tương đối. Do đó, Đức Khổng Tử lấy chủ nghĩa “Thiên Địa vạn vật đồng nhất thể “ làm căn bản cho học thuyết của Nho giáo.


4.2.2. Thiên mệnh


Trời là Chủ thể của cả Càn khôn Vũ trụ và vạn vật nên có cái sức mạnh bí mật điều khiển tất cả sự biến hóa và xoay chuyển trong Vũ trụ cho được điều hòa. Đó là Thiên mệnh, tức là Mệnh Trời.


Làm người phải biết mệnh Trời để nương theo đó mà sinh hoạt cho phải đạo. Nhưng con người cũng có cái tự chủ riêng 

Read More

Thói quen viết

Leave a Comment





Mấy hôm nay mới có thời gian sửa lại giao diện và tư duy lại 1 chút về blog mà lâu nay mình bỏ quên. Tính ra bài đăng gần nhất cũng đã hơn 1 năm, giật mình nhận ra 1 năm qua mình chưa viết 1 bài nào. 

Cách đây mấy tuần, mình vừa tìm hiểu về Phật pháp và đọc bài của 1 người mà mình khá quý (TGG - ông này không liên quan gì Phật giáo), có 1 nhận định rất đúng mà mình nghiệm ra: Chúng ta nên sống hướng về phía bên trong nhiều hơn trước khi hướng ra bên ngoài. Trong khi chúng ta hướng quá nhiều thời gian, công sức ra bên ngoài như đi làm công ăn lương phục vụ xã hội, giao tiếp với mọi người (cả gia đình và bạn bè) hay là đi làm từ thiện,... thì những lúc đó bản thân nội tâm của chúng ta vẫn chưa hoàn thiện, trong trẻo, tĩnh lặng để đủ lực hướng ngoại. Hậu quả là chúng ta vừa ít khi đạt được những kết quả tốt của việc hướng ngoại (công việc vẫn chưa trôi chảy, các mối quan hệ vẫn bất ổn hay làm từ thiện không đem lại kết quả,...) vừa không đạt được kết quả trong nội tâm. Cũng giống như câu chuyện "vác tù và hàng tổng" vậy. Và đại ý của nhận định này là chúng ta nên giải quyết những bài toán bên trong bản thân mình trước, giải quyết sâu xa và triệt để mọi vấn đề của nội tâm, để có 1 sự tĩnh lặng, an lạc nhất định để đối mặt và xử lý các vấn đề quan hệ bên ngoài, từ công việc, gia đình, bạn bè, cống hiến xã hội,... Mình hiểu nôm na là như vậy.

Vậy thì làm gì với nội tâm chúng ta để đạt trạng thái an lạc, tĩnh lặng? Đương nhiên đó là 1 chặng đường xa, và muốn đạt được thì ta phải "tu". Một trong những việc đó là hãy đối diện thường xuyên với bản thân mình, để lắng nghe bản thân mình đang ở đâu, muốn gì, và nên làm gì,... Và đương nhiên, chính việc ngồi đối diện với bản thân trên cái Blog này thực sự rất cần thiết.

Mình ngẫm lại, ngày xưa, mỗi lần ngồi suy ngẫm và soạn thảo từng dòng bài viết để đăng lên Blog, mình thấy có sự gì đó lớn lên của bản thân mình. Nó ko rõ ràng lắm (vì chắc mình viết không đều), nhưng chắc chắn là có sự lớn lên mà chính bản thân mình cũng không nhận ra. Để rồi hôm nay, sau hơn 1 năm ko động chạm gì bàn phím, mình đã thấy mình lớn hơn khi soạn ra những dòng này. Và hi vọng, mình sẽ đều tay hơn. Càng viết nhiều, càng chiêm nghiệm nhiều, mình sẽ tường minh mọi suy nghĩ của mình hơn.

Ngoài ra thì còn có 1 lý do nữa để mình sửa lại thói quen viết của mình. Đó mình nghĩ đến 5-10-20 năm nữa, khi mình già đi, mình sẽ đọc lại những dòng này, mình sẽ hiểu hơn về những suy nghĩ của tuổi trẻ, cũng như là 1 cách để hiểu hơn về con cháu mình, để dạy chỗ chúng nó. Hi vọng đọc đến dòng này, con của bố, cháu của ông sẽ hiểu tại sao lại nên viết Blog.

Hà Nội, 4h17 26/03/2022,

Nguyễn Quang Huy



Read More

Người trẻ và 5 lựa chọn quan trọng nhất cuộc đời

Leave a Comment
Trong vô vàn lựa chọn mà đời người phải trải qua, không phải lúc nào chúng ta cũng đúng. Nhưng, trước những lựa chọn quan trọng nhất, việc đưa ra quyết định sáng suốt sẽ cho chúng ta một cuộc đời "thăng hoa" như mong muốn và ngược lại.

Đối với những người trẻ, điều này lại càng có ý nghĩa hơn bởi họ có cả một tương lai phía trước đang chờ đợi, mà việc đưa ra những lựa chọn đúng được sớm chừng nào lại khiến tương lai ấy rõ ràng hơn chừng đó.


1. Chọn LẼ để SỐNG

Lẽ sống chính là hoài bão và sứ mệnh của cuộc đời, là giá trị nền tảng, chuẩn hành xử của của chính mình. Xác định lẽ sống chính là trả lời câu hỏi: “Mình là ai, mình sống để làm gì, mình sẽ dùng cuộc đời của mình vào việc gì và việc đó có đáng để dùng hay không?”.

Xác định lẽ sống cũng chính là việc chọn cho mình lý do để sống (rốt cuộc ý nghĩa của cuộc đời mình nằm ở đâu) - được coi là “đích đến”, “bánh lái”, hay sẽ là “ma đưa lối, quỷ đưa đường” trong cuộc đời chúng ta. Đây là lựa chọn quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới tất cả những lựa chọn còn lại. Không phải ai cũng chọn được đúng “đích đến” và “bánh lái” cho mình và hậu quả là cuộc đời của họ nhiều khi sẽ rất uổng phí hoặc vô cùng bi kịch. Con người sinh ra vốn dĩ là lương thiện, nhưng chọn lẽ sống khác nhau thì sẽ có những con người khác nhau, cuộc đời khác nhauvà số phận khác nhau.

2. Chọn NGƯỜI để LẤY

Phải bắt đầu lựa chọn này từ việc mình muốn có một gia đình như thế nào. Tình yêu là một phạm trù hoàn toàn mang tính cảm xúc nhưng hôn nhân lại có cả yếu tố lý trí. Lấy vợ, lấy chồng thì có lẽ ai cũng làm được (chỉ trừ những người không thèm lấy hoặc không tìm được người phù hợp). Tuy nhiên, không phải ai cũng tìm cho mình được một người vợ, người chồng, và đồng thời cũng là một người bạn đời!

Người ta hay nói là trong tất cả các kiểu bạn (bạn xã giao, bạn tâm giao, bạn tư giao, bạn tri kỷ...) thì chọn bạn đời là khó nhất. Khi chọn bạn đời, điều kiện cần là tình yêu thương nhưng quan trọng hơn là cả hai phải chia sẻ được lẽ sống và hệ giá trị suốt cả cuộc đời. Có thể khi cưới nhau, vợ chồng chưa thực sự là bạn đời, chưa xác định rõ lẽ sống, chưa có chung một hệ giá trị nhưng họ sẽ cùng thay đổi nhau và thay đổi chính mình để không chỉ là người chồng, người vợ của nhau, mà còn là người bạn trên hành trình còn lại của cuộc đời. Được như vậy, cuộc đời sẽ thăng hoa!

3. Chọn VIỆC để LÀM

Thực tế cho thấy đang có xu hướng chọn nghề và đổi nghề theo “mốt”. Nghề nào được gắn mác “thời thượng” là giới trẻ đổ xô vào tìm “vận may”. Thậm chí khi đã thành công với một nghề nào đó thì phần đông lại cùng tìm đến một nghề, đó là nghề chính trị. Thực ra, xã hội có nhiều đỉnh chứ không chỉ có một đỉnh là quyền lực: Trở thành một chính trị gia tài ba là một đỉnh; trở thành một nhạc sĩ lớn cũng là một đỉnh; trở thành một bác sĩ giỏi cũng là một đỉnh, trở thành một kiến trúc sư danh tiếng cũng là một đỉnh... Thực ra, làm một bác sĩ giỏi vẫn tốt hơn là làm một viện trưởng tồi, làm một giáo sư giỏi thì quan trọng hơn là làm một hiệu trưởng kém.

Thực ra, làm sếp hay làm lính, làm thầy hay làm thợ, làm quan hay làm dân, làm chủ hay làm thuê... đều không quan trọng, mà quan trọng là làm cái gì mà mình giỏi nhất, phù hợp với tính cách của mình nhất và tạo ra giá trị nhiều nhất (cả giá trị tài chính và giá trị xã hội).

Bên cạnh chọn công việc và nghề nghiệp phù hợp để làm,chúng ta cũng cần tìm cho mình một nơi làm phù hợp để gắn bó (công ty, tổ chức nào, ngành nào,lĩnh vực nào, vùng miền nào...). Điều này rất quan trọng vì công việc không chỉ là chỗ để đóng góp, mưu sinh mà còn là nơi để học tập và phát triển. Ngày nay, người ta bị ảnh hưởng bởi chính nơi mình làm việc nhiều hơn là nơi mình học. Cũng đều tốt nghiệp một trường đại học, đều học giỏi như nhau nhưng sau mấy năm ra trường sẽ có 2 cuộc đời khác nhau, 2 tương lai khác nhau mà nguyên nhân là vì đã có 2 lựa chọn về công việc khác nhau.

4. Chọn THẦY để HỌC

Sự học luôn là một trong những “sự nghiệp” quan trọng nhất trong cuộc đời của mỗi người. Dưới đây là 5 “người thầy” gần gũi và hữu ích nhất:

Thầy

Đây là những người thầy bằng xương bằng thịt, trực tiếp khai sáng trí tuệ và nuôi dưỡng tâm hồn cho chúng ta. Thầy thì có nhiều nhưng không phải ai cũng là người thầy đúng nghĩa, không phải ai cũng có thể dẫn dắt người học làm chủ quá trình học và khám phá thế giới vô tận của tri thức. Vì thế mà việc chọn đúng người để học, để tôn làm thầy có ý nghĩa quan trọng là vậy.


Sách

Sách là một trong những con đường dễ nhất, rẻ nhất và nhanh nhất cho sự học của mỗi người. Sách không chỉ là người thầy mà còn là người bạn tri kỷ, luôn tử tế, nhẫn nại, chờ đợi và chịu đựng chúng ta. Học từ sách là học từ những bộ óc vĩ đại nhất của loài người, là việc biến túi khôn của nhân loại vốn đã được đúc kết trong sách thành của mình. Chúng ta có thể đưa những người thầy vĩ đại nhất của thế giới, từ cổ tới kim, từ Đông sang Tây, về tận nhà để dạy cho mình, bất kể thời điểm nào mà chi phí nhiều khi chỉ bằng... tô phở.

Tuy nhiên, không đọc sách thì chắc chắn là không giỏi nhưng đọc sách nhiều cũng chưa chắc tạo ra giá trị. Vấn đề còn nằm ở chỗ chọn sách nào để đọc, đọc như thế nào và học được gì từ sách.

Kinh nghiệm

Trên đời này có những cái mà không trả giá thì không thể học được, nhưng cũng có những cái không cần trả giá cũng có thể học được. Cuộc đời chúng ta sẽ không thể tránh khỏi những thất bại, vấn đề là sau mỗi thất bại thì cần phải rút ra được những bài học để những thất bại tương tự không còn tái diễn trong tương lai. Có những người cho rằng, nếu muốn không thất bại thì tốt nhất là đừng có làm gì nữa, nhưng nếu vậy thì sẽ có một thất bại cực lớn khác, đó là thất bại cả cuộc đời. Để hạn chế thất bại và trả giá, cần phải học rất nhiều từ 2 “người thầy” đầu tiên (thầy và sách).

Nhân vật

Họ có thể là các bậc thức giả (để chúng ta học tri thức) hoặc những nhân vật có ảnh hưởng trong xã hội (học tinh thần, ý chí). Chính những câu chuyện thành công, thất bại, những trải nghiệm, tư tưởng, tài năng và nhân cách của họ sẽ là bài học quý giá cho mình trên con đường tự khai sáng bản thân mình và những người quanh mình.

Tuy nhiên, phải có năng lực thẩm định, biết mình là ai, biết ai là ai, cái gì là cái gì, nếu không thì sẽ vô cùng nguy hiểm, người đáng khinh thì lại trọng, người đáng trọng lại khinh.

Internet

Được coi là một trong những phát minh quan trọng nhất của thế kỷ 20, làm cho cả nhân loại thay đổi một cách sâu sắc và khác biệt hẳn so với những thời kỳ trước đó, Internet thực sự là công cụ hữu hiệu cho sự học của mỗi người. Thời đại Internet hình thành 2 loại người: “Công dân mạng” và “Sâu mạng”. “Công dân mạng” là những người sử dụng Internet như một công cụ để nâng cao kiến thức của mình, phục vụ cho công việc và cuộc sống. Còn “sâu mạng” là những kẻ phung phí phần lớn thời gian, sức lực của mình vào những trò tiêu khiển trên mạng hoặc phá hoại, có thể có “sâu cuốn lá” (game online), “sâu đục thân” (coi phim sex), “sâu chat” (tán chuyện gẫu); “sâu phá hoại” (hacker mũ đen)... Là “công dân mạng” hay “sâu mạng”, đó cũng là một lựa chọn quan trọng đối với người trẻ trong thời đại này.

5. Chọn BẠN để CHƠI

Nói đến con người là hàm ý tới con người xã hội với nhiều mối quan hệ đan xen, và cũng chính những mối quan hệ đó định hình chân dung một người. Chẳng hạn, phương Tây có câu: Hãy nói cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ nói bạn là ai. Còn ông bà mình, khi nhận xét về một người hoặc một nhóm người nào đó thì thường nói: “Mã tầm mã, ngưu tầm ngưu” hoặc “Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” (ngoại trừ một số ít người quá đặc biệt, quá cá tính thì gần mực sẽ không đen, mà gần đèn cũng chẳng sáng).

Trong đời người, ngoài người bạn quan trọng nhất là bạn đời thì cần phải có bạn tâm giao, bạn thâm giao, thậm chí là bạn tri kỷ, chứ không phải chỉ có những người bạn hời hợt, quen biết xã giao, ngoại giao. Họ là những người cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, chia sẻ một hệ giá trị và những lý tưởng sống, giá trị sống. Dẫu vậy, họ có thể có những con đường khác nhau trên hành trình lập thân, lập nghiệp.

Có thể nói bạn bè chính là “tài sản” của mỗi người (“Giàu vì bạn, sang vì vợ”), là nguồn chia sẻ, động viên, hỗ trợ khi cần thiết. Song, như thế không có nghĩa là tận dụng bạn, lợi dụng bạn. Ngược lại, chơi với bạn cần phải xác định là để giúp bạn cùng phát triển và tiến bộ. Một tình bạn nếu được xây đắp trên tinh thần như vậy thì sẽ vô cùng bền vững và tốt đẹp.

Chọn Lẽ để sống là chọn “đích đến” và “bánh lái”, là chọn “hệ điều hành” cho cuộc đời; Chọn Người để lấy là lựa chọn cho mình một gia đình, một tổ ấm, một nơi chốn bình yên để đi về, để là “bệ phóng” của nhau trong cả cuộc đời; Chọn Việc để làm là chọn cho mình một sự nghiệp, để hiện thực hóa giấc mơ cuộc đời; Chọn Thầy để học là chọn những nhân vật hoặc phương cách để trang bị cho mình những hiểu biết và năng lực để hoạch định và thực thi chiến lược cuộc đời; Chọn Bạn để chơi là kiếm tìm và nuôi dưỡng những tình bạn đẹp nhằm làm giàu có thêm cho cuộc đời của mình. Tất cả những lựa chọn quan trọng này cần phải được đặt ra và thi triển hết sức nghiêm túc, để những câu hỏi ở đầu bài: Mình là ai? Mình sống để làm gì? Cuộc đời mình sẽ đi đâu về âu? Rốt cuộc là mình ẽ dùng cuộc đời mình ào việc gì và việc đó có đáng để dùng hay không? Mình muốn có một cuộc đời ra sao?... được trả lời một cách trọn vẹn. Bằng cách đó người trẻ sẽ có một cuộc đời đáng sống, như có thể đúc kết thành: “Your Choices, Your Life” (Lựa chọn của bạn quyết định cuộc đời của bạn), “Your Values, Your Fate” (Giá trị bạn chọn sẽ quyết định số phận của bạn”).

Giản Tư Trung

Read More